Gia đình, mái ấm cho những trái tim bị thương tích 27/04/2021

Hình: rappler.com

GIA ĐÌNH, MÁI ẤM CHO NHỮNG TRÁI TIM BỊ THƯƠNG TÍCH

Tác giả: Đức Hồng y Luis Antonio Tagle
Bài thuyết trình tại Đại hội Gia đình Thế giới lần thứ VIII tại Philadelphia, ngày 24/9/2015, rappler.com
Chuyển ngữ: Antôn Uông Đại Bằng

WHĐ (27.04.2021) – “Các vết thương có thể do gia đình gây ra, nhưng cũng chính gia đình lại có thể là suối nguồn an ủi và chữa lành”.

Xin chào tất cả các bạn thân mến từ khắp nơi trên thế giới tuôn về đây để họp mừng mầu nhiệm, sự sống, và sứ mệnh của gia đình.

Nhiệm vụ của tôi chiều hôm nay là cùng với các bạn suy tư về gia đình, một mái ấm cho trái tim bị thương tích. Tôi sẽ hết sức cố gắng.

Trước hết, xin mời các bạn xem xét những thứ thương tổn khác nhau mà chúng ta đã từng gặp và phải gánh chịu.

Kế tiếp, chúng ta sẽ hướng về Chúa Giêsu, Đấng đã mang thương tích, và công cuộc rao giảng về Nước Thiên Chúa của Ngài luôn bao hàm sứ vụ chữa lành.

Kế nữa, chúng ta hướng về Hội Thánh, là Nhiệm Thể của Ngài, gồm những con người nam và nữ từng bị thương tích, nhưng lại được mời gọi để chia sẻ sứ mệnh cứu độ của Chúa và Thủ lãnh của mình, Đức Giêsu Kitô.

Và sau cùng, tôi xin đề nghị một số bí quyết để cho chúng ta, tuy là những con người đã bị thương tích, vẫn có thể là tác nhân chữa lành trong các gia đình chúng ta, và trong gia đình rộng lớn hơn của Hội Thánh.

Và vì đây là Đại Hội Gia Đình Thế Giới, cho nên tôi đã đem cả gia đình của tôi tới đây. Đây là cha mẹ tôi, và các anh chị em tôi (Đức Hồng y chỉ về phía gia đình mình).

I. NHỮNG TRÁI TIM BỊ TAN NÁT, NHỮNG CON NGƯỜI BỊ TỔN THƯƠNG.

Dĩ nhiên, khi nói trái tim ở đây không có ý chỉ nói về một cơ quan trong thân thể chúng ta. Nói về trái tim bị thương tích là có ý nói về những con người bị tổn thương. Tất cả mọi người đều bị tổn thương. Tôi đoán không ai trong chúng ta ở đây có thể quả quyết rằng: “Tôi chưa bao giờ bị tổn thương cả.” Tất cả mọi người chúng ta đều đã từng bị tổn thương, và còn tiếp tục sẽ phải chịu tổn thương trong con tim chúng ta.

Có nhiều loại thương tổn khác nhau. Có khi là về thể chất. Có khi là về tinh thần. Có khi là về tình cảm. Có khi là về mối tương quan. Có khi là về tài chánh. Và có những nguyên nhân khác nhau và những hệ quả khác nhau. Nhưng dù vết thương của ta thuộc loại nào đi nữa, nó cũng luôn luôn tác hại đến gia đình và, do đó, tác hại đến những mối quan hệ nhân sinh xã hội của chúng ta.

Mọi vết thương đều gây đau đớn. Nhưng những vết thương càng đau đớn và gây tổn hại hơn, khi chúng ta thấy những người thân yêu trong gia đình chúng ta phải chịu đựng. Khi có ai gây ra một tổn thương cho một người trong gia đình chúng ta, chúng ta cũng bị thương tổn. Những vết thương ấy trở nên những vết thương của chính chúng ta. Nhưng những vết thương gây đau đớn nhất là những vết thương do chính người thân yêu trong gia đình mình gây ra cho mình. Tính thánh thiêng của gia đình bị tổn thương bởi chính điều này.

Khi anh chị em chống lại nhau vì tiền bạc. Khi những người thân thuộc chống lại nhau vì một món tài sản, họ nói:” Chúng tôi tranh đấu cho một nguyên tắc!” Đó là nguyên tắc gì vậy, khi một miếng đất lại được coi là quan trọng hơn cả anh em mình? Nhưng đời này người ta gọi đó là “nguyên tắc” đấy!

Nhưng đây mới là mầu nhiệm của tất cả điều đó. Dẫu cho gia đình có bị tổn hại bởi những vết thương, thì cũng chính gia đình lại là chốn ưu việt để ủi an và chữa lành những trái tim tan nát. Những vết thương có thể do gia đình gây ra, nhưng cũng chính gia đình lại trở nên nguồn an ủi và chữa lành.

Vết thương tác hại cho gia đình chúng ta ngày nay thì rất nhiều, bao la và sâu thẳm. Xin kể ra đây một số thí dụ:

– Sự túng quẫn về tài chánh, cảnh thất nghiệp, sự cơ cực.

– Sự bất lực trước những nhu cầu căn bản của con người.

– Sự không được giáo dục.

– Chính sách không nâng đỡ các gia đình.

– Thất bại trong các mối tương quan, thất trung, bệnh hoạn, tật nguyền.

– Bị loại trừ, kỳ thị về mặt xã hội, văn hóa, thậm chí cả về tôn giáo.

– Nạn buôn người, xâm hại trẻ em, bạo hành trong gia đình, lạm dụng phụ nữ, mãi dâm, nhiều hình thức nô lệ mới.

– Chiến tranh, xung đột chủng tộc.

– Tai ương do biến động khí hậu.

– Bị cưỡng bức di cư, tỵ nạn.

Tất cả những vấn đề đó gây biết bao thương tổn cho con người và gia đình. Và từ bối cảnh riêng của các bạn, của đất nước các bạn, của vùng hay miền của các bạn, có lẽ các bạn còn có thể kéo dài thêm bản liệt kê này hơn nữa.

Xin vui lòng mở to đôi mắt ra nhìn. Xin hãy lắng nghe những tiếng kêu than của những ai bị thương tổn. Hãy xem những vết thương, và tìm hiểu nguyên nhân các vết thương ấy.

Những vết thương ‘làm con người bị tha hóa’

Những vết thương làm cho con người, gia đình, và cộng đồng trở nên mong manh dễ bị lợi dụng, phải ngậm đắng nuốt cay, thất vọng, bị bóc lột, và thậm chí dễ sa vào vòng xấu xa, tội lỗi. Nhiều người đi đến chỗ sai phạm, gây tội ác. Họ bắt đầu nghĩ đến những hành động xấu xa bởi vì những vết thương sâu hoắm nơi họ. Bị chia cắt từ nội tâm, và bị chia cắt ở bên ngoài, mọi xung đột , do đó, đều có thể đưa tới sự tha hóa.
“Người ta không còn biết mình là ai nữa. Người ta không biết còn được gia đình thừa nhận nữa hay không, không biết có còn thuộc về xã hội nữa hay không. Người ta cho mình là kẻ xa lạ rồi. Mình không còn thuộc về ai cả. Mình không có ngay cả một mái ấm.”

Đây thường là trải nghiệm của những con người mang thương tích – cảm thấy mình không còn là mình nữa, mình không có lấy một mái ấm gia đình. Người ta có thể có một ngôi nhà thật lớn và đẹp, nhưng vẫn là kẻ vô gia cư. Vì một mái ấm là gì? Một mái ấm không phải là cái bạn đo được bao nhiêu mẫu và trên đó tọa lạc một kiến trúc gọi là nhà. Không! Một mái ấm là một quà tặng bằng tình yêu hiện diện.

Tôi còn nhớ một ca khúc rất hay hồi tôi còn trẻ. Ca khúc ấy thế này: “Một cái ghế vẫn là một cái ghế, cho dù gặp khi chẳng có ai ngồi trên đó. Nhưng một cái ghế đâu có phải là một ngôi nhà, và một ngôi nhà đâu có phải là một mái ấm khi chẳng có một ai ở trong đó để ôm chặt lấy bạn, và chẳng có một ai trong đó để bạn có thể hôn chúc ngủ ngon.”
 Ca khúc chưa hết đâu nhé. Và còn tiếp: “Một gian phòng vẫn là một gian phòng dù có khi chẳng có gì ngoài bóng tối âm u. Nhưng một gian phòng đâu có phải là một ngôi nhà, và một ngôi nhà đâu có phải là một mái ấm, khi đôi ta rời xa nhau, mỗi người đều mang một con tim tan nát.”
Cho tôi kết thúc nhé. Tôi cũng bị trúng thương rồi. “Đôi khi tôi gọi tên em, và khuôn mặt em chợt hiện về, nhưng đó chỉ là một trò chơi làm tôi phát điên khi nó chấm dứt. Nó kết thúc trong nước mắt.” Rồi là lời thỉnh nguyện: “Em yêu ơi, hãy có một con tim. Đừng để cho một lỗi lầm ngăn cách chúng ta. Tôi không muốn sống lẻ loi đâu. Hãy biến ngôi nhà này thành một mái ấm. Khi tôi bước lên cầu thang và xoay chìa khóa, ôi xin em vui lòng vẫn đứng ở đó, mà vẫn còn thương yêu tôi.”
 Đó là một mái ấm. Không phải chỉ là một ngôi nhà, nhưng là một mái ấm – một sự hiện diện trìu mến – một món quà tặng. Món quà tặng ấy chính là một sự hiện diện trìu mến.

II. CHÚA GIÊSU, ĐẤNG CHỮA LÀNH MỌI THƯƠNG TÍCH

Một tác giả tên là Luciano Sandrin lưu ý chúng ta rằng: gắn liền với sứ mệnh của Chúa Giêsu – công bố triều đại Thiên Chúa – là ơn chữa lành cho những ai bệnh hoạn, bị thương tổn. Việc loan báo và khai mở Nước Thiên Chúa được kèm theo những dấu lạ, nhất là dấu lạ chữa lành.

Trong Mat-thêu 9, 35, Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa, và chữa lành hết các bệnh hoạn tật nguyền, và Ngài cũng dạy các tông đồ làm như thế.

Trong Mat-thêu 10, 7-8, Ngài nói: “Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Thiên Chúa đã đến gần. Hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ.”

Tin Mừng Nước Thiên Chúa biểu lộ qua việc chữa lành bằng cách chăm sóc, giúp đỡ dân chúng, đồng hành với họ, khôi phục lại mối tương quan, làm cho kẻ chết sống lại…Khi Thiên Chúa hiển trị, khi Người đến, con người sẽ được cứu độ, quý trọng và chăm sóc. Ở đâu có Thiên Chúa ngự trị, ở đó các vết thương sẽ được chữa lành.
Điều này ta thấy được trong cả bốn sách Tin Mừng. Dường như đó là một biểu thức trong sứ mệnh loan báo Nước Trời của Đức Giêsu – luôn luôn có ban ơn chữa lành. Luôn luôn có lòng nhân hậu. Chúa Giêsu luôn chạnh lòng thương. Ngài luôn chăm sóc. Và vì chăm lo cho con người, Ngài có thể nổi giận đối với sự dữ đã xảy ra cho con người, và Ngài liền ra tay chữa lành.

Rồi tới đức tin. Thường thường người được chữa lành tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu. Nhưng sau cùng, Đức Giêsu cũng bảo họ đừng có nói gì cả. Đó là đức khiêm tốn của Ngài. Đức khiêm tốn của Đấng Chữa Lành. Đấng Chữa Lành sẽ không đi khắp nơi để nói: “Này, này! Thấy người kia không? Anh ta trước kia đi khập khiễng đó! Nhờ Ta mà bây giờ anh ta đi ngay ngắn được rồi! Ngợi khen Ta đi!”
 Không! Đấng Chữa Lành đến để loan báo Nước Thiên Chúa, chứ không phải để tuyên bố về mình.

Tuyên bố về mình là cung cách của trần gian. Các nước trần gian cứ lo hành động vì tham vọng, quyền thế, tự tôn tự đại – những thứ chỉ gây tổn thương cho con người. Còn Đức Giêsu luôn luôn khiêm tốn, chỉ lo phụng sự Nước Thiên Chúa. Cho nên Nước này lo chữa lành, bằng cách chăm sóc, bằng lòng thương xót, và bằng tình yêu.

Chữa lành ‘ngay cả kẻ thù đang bị thương tích’

Một số Giáo phụ nói rằng: trong dụ ngôn người Samari Nhân hậu, Đức Giêsu đã nói về chính mình Ngài. Kẻ chú ý tới những những ai đang bị bỏ nằm chờ chết bên vệ đường – chính là Đức Giêsu. Và ta có thể đồng ý như thế. Vâng, Ngài chính là người Samari Nhân hậu. Bất cứ ai bị thương tích, cho dẫu đó là kẻ xa lạ, cho dẫu đó là kẻ thù, Ngài vẫn yêu thương và chăm sóc.

Hãy nhớ, người Samari vào thời đó vốn bị coi là kẻ thù đối với dân Do thái. Nhưng Đức Giêsu dừng lại và chữa lành. Ngài còn chữa lành ngay cả kẻ mưu mô bách hại Ngài. Hãy nhớ trong Tin Mừng Gioan 13, Ngài đã rửa chân cho các môn đệ, trong số đó có cả kẻ đã lên kế hoạch phản bội Ngài.

Chúng ta đều biết các dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa. Trong Luca 15, có ba dụ ngôn, cả ba đều nói về những vật hay người bị mất – con chiên bị mất, đồng bạc bị mất, và đứa con bị mất. Tất cả đều đang bị mất. Nhưng cả ba dụ ngôn này đều kết thúc trong niềm vui, với tiệc tùng. Tại sao vậy? Bởi vì những gì đã mất, nay lại tìm thấy, nay lại trở về.

Các bạn thấy ở dụ ngôn thứ nhất: con chiên bị mất. Có lẽ nó bệnh hoạn hoặc bị thương. Và theo lý luận thuần túy có tính thực dụng và kinh tế, người chăn chiên không nên bỏ lại chín mươi chín con chiên mạnh khỏe để đi tìm con chiên bị thương tích, bệnh hoạn và thất lạc ấy. Con chiên bị thương này thực là cả một gánh nặng đấy.

Nhưng tại sao? Tại sao người chăn chiên lại đi tìm con chiên ấy?

Tại sao người phụ nữ lại đi tìm mỗi một đồng bạc?

Và tại sao người cha lại mừng đón đứa con đã đi hoang nay trở về một cách tốn kém quá như vậy?

Vì một lý do thôi – con chiên, con vật bị thương tích và thất lạc này là của tôi. Đó là chiên của tôi. Nếu nó không thể trở về được, tôi phải mang nó về.

Vì đồng bạc này là của tôi.

Người con lớn chỉ trích người cha: “Thằng con của cha đó!” Nhưng người cha nói, “Em của con.” Người cha muốn tổ ấm gia đình phải là một toàn thể. Và mái ấm đó không thể là một toàn thể nếu đứa em đi hoang không được đón nhận trở về. Chẳng có lý do nào khác – các con là của ta, và tổ ấm của ta sẽ không đầy đủ nếu thiếu mỗi một trong các con. Con không thể về nhà ư? Ta sẽ đem con về.

Chúa chữa lành bằng cách bị thương tích

Đây là cách Đức Giêsu giới thiệu Vương quốc của tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Ngài không chỉ chữa lành những triệu chứng của căn bệnh hay thương tích chúng ta. Ngài không chỉ cứu chúng ta khỏi tình trạng bệnh hoạn và tình trạng bị thương tích. Ngài cứu chữa chúng ta nơi những thương tích của chúng ta và trong tình trạng thương tổn của chúng ta. Nhưng Ngài còn dấn mình vào nỗi đau thương của chúng ta. Ngài đã trở nên giống như chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi.

Khi nhập thể, Ngài đã ôm lấy thế giới đầy thương tích của chúng ta. Ngài đã từng bị săn đuổi bởi một bạo vương. Ngài từng phải lánh nạn bên Ai cập. Ngài từng bị thất lạc ở tuổi mười hai. Ngài từng bị coi là kẻ điên khùng. Ngài đã lâm vào cảnh không một mái nhà. Ngài từng bị nhạo cười, phỉ báng. Ngài đã bị một người bạn phản bội. Ngài đã chịu một cái chết đầy sỉ nhục trên thập giá, là khổ hình chỉ dành cho những kẻ phạm trọng tội. Và người ta đã phải mượn một ngôi mộ để mai táng cho Ngài.

Đức Giêsu chữa lành cho ta bằng cách để chính mình Ngài phải chịu lấy những thương đau.

Và theo Thư gửi tín hữu Do thái, Ngài đã trở nên một vị Thượng tế thập toàn và biết cảm thương, một người anh nhân hậu, vì Ngài đã chịu thử thách mọi bề như chúng ta, trải qua tất cả những đau thương của chúng ta. Và Ngài đã biến đổi những đau thương ấy thành chiến thắng của tình yêu. Chính vì vậy, Đức Kitô phục sinh vẫn mang những dấu vết của thương tích. Những thương tích ấy sẽ không biến mất. Quả thực, chính Đấng bị thương tích đã cứu độ chúng ta. Bởi thế, vì tất cả chúng ta đều chịu thương tích, nên không một ai có thể nói rằng: “Tôi không nhận được ơn chữa lành nào.” Không. Những đau thương của chúng ta sẽ làm cho chúng ta thành những đại lộ dẫn tới sự hiểu biết, cảm thương, liên đới và tình yêu.

Như thế, Đức Giêsu, Đấng đã chịu khổ hình tiếp tục cầu xin Chúa Cha cho chúng ta trong sự phục sinh của Ngài. Chúng ta đừng nghĩ rằng khi phục sinh, các thương tích, các vết sẹo sẽ biến đi. Không. Cho dù đó là những vết sẹo của cuộc đời, của lòng cảm thương, của tình liên đới, đó là những chứng tích tuyệt vời, vì Đấng phục sinh cũng còn mang những dấu vết ấy của sự quan tâm đầy trìu mến của Ngài đối với tất cả chúng ta.

III. HỘI THÁNH: MÁI ẤM CHO NHỮNG TRÁI TIM MANG THƯƠNG TÍCH

Chúng ta biết Hội Thánh chính là Thân Mình Chúa Kitô, hiện diện trong mỗi cộng đoàn địa phương, như giáo xứ, giáo phận, hội dòng hay tu đoàn tông đồ, và đặc biệt nhất, gia đình – hội thánh tại gia, hội thánh trong gia đình.

Là Thân Mình Đức Kitô, Hội Thánh chia sẻ sứ mệnh của Ngài là loan báo triều đại của Thiên Chúa bằng việc chữa lành, bằng sự liên đới, bằng sự cảm thương. Thánh Phaolô nói, trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, chương 12: “Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau với bộ phận ấy. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng cùng vui chung niềm vui ấy.”

Hội Thánh của những thành viên bị mang thương tích trở nên một Hội Thánh của tình liên đới và cảm thương trong sự hiệp nhất với nhau. Không chỉ trong vinh quang nhưng nhất là trong những đau thương.

Thưa các bậc cha mẹ thân mến, khi con của các bạn tốt nghiệp vẻ vang, tôi luôn nghe điều này – sự lưu ý của người cha hay người mẹ lúc chứng kiến sự kiện này, với nước mắt lưng tròng: “Ôi, con trai tôi! Con gái tôi!”

Nhưng khi đứa con thi rớt, và phải bị ở lại lớp, thì người cha hay người mẹ ấy lại nói với phối ngẫu của mình: “Thấy con anh / em đấy! Con anh / em phải học lại rồi !”

Tại sao khi được vẻ vang thì nói “con tôi”. Còn khi bị thất vọng thì nói “con anh / con em”?

Chúng ta là một Hội Thánh, một mái ấm, một gia đình. Hội Thánh cần phải là hiện thân sứ mệnh cứu độ của Thiên Chúa.

Joseph Hartzler mượn lối nhìn sâu sắc của đại thần học gia Canada là Bernard Lonergan để nói rằng: “Ngày nay sứ mệnh cứu độ của Đức Giêsu cần phải được biểu lộ trong một Hội Thánh gồm những môn đệ đích thực biết xả thân vì tình yêu. Vì một cộng đoàn như thế mới có thể giữ cho con người khỏi bị tha hóa, cô đơn, và bị thương tổn thêm nữa. Cần phải có một tình yêu biết quên mình và hy sinh.”

Lumen Gentium, Hiến chế Tín lý về Hội Thánh của Công đồng Vatican II, dạy rằng: Hội Thánh là Bí tích, nghĩa là dấu chỉ và phương tiện hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất mọi người. Ở nơi cốt lõi của Hội Thánh là sự kết hiệp mật thiết, hiệp thông, tình yêu, chứ không phải là sự tha hóa. Cho nên, chính ở cốt lõi căn tính của Hội Thánh là sứ mệnh của Hội Thánh – chúng ta được mời gọi gia nhập Hội Thánh là để chữa lành, để giao hòa và để hiệp nhất.

Một hình ảnh tuyệt vời trong Kinh Thánh về một Hội Thánh chăm lo chữa lành cho dẫu còn đang mang thương tích, đó là nhóm gồm mấy bạn hữu của người bất toại trong Marcô 2: Khi họ thấy không thể nào đưa bạn mình đến gần bên Chúa Giêsu được vì người ta quá đông, họ đã làm gì nào ? Họ leo lên mái nhà. Họ dỡ mái làm một lỗ hổng để đưa người bạn bại liệt xuống cho Chúa cứu chữa. Đó phải là hình ảnh của một gia đình, một giáo xứ, một giáo phận. Đó là cả Hội Thánh. Không một ai chịu bỏ cuộc cả. Tôi cũng không bỏ cuộc! Chúng ta nhất định không chịu bỏ cuộc trong việc đưa người ta đến với Chúa Giêsu để được chữa lành.

Nói theo ngôn từ của Maria Cataldo Cunniff, Hội Thánh mở các cửa ra cho Chúa Giêsu, và nhiều khi phải dỡ cả mái nhà, để đem người ta đến với Chúa.

IV. NHỮNG VIỆC PHẢI LÀM NGAY.

Đây là những việc chúng ta phải làm ngay để thực thi sứ mệnh cứu độ của Đức Kitô – khai mở triều đại Thiên Chúa – trong lòng Hội Thánh như mái ấm cho những con tim mang thương tích.

Trước hết, phải nhận thức rằng mọi sự chữa lành đều phát xuất từ Thiên Chúa.

Đó là sáng kiến của Thiên Chúa.

Kế đến, việc chữa trị hữu hiệu nhất cần được thực hiện trong một cộng đoàn – gia đình, giáo xứ, trường học hay nhóm bạn – với sự tham gia của chính người cần chữa trị. Đương sự cũng cần phải can đảm tiến bước vào con đường chữa trị tức là hoán cải. Đừng quên những phương thế của phụng vụ bí tích – Thánh tẩy, Thánh Thể, Tha thứ và Hòa giải, Xức dầu bệnh nhân, và chiều kích luân lý.

Joseph Kelly đề nghị một số thực hành dựa trên hình ảnh của Hội Thánh như một bịnh viện dã chiến – một hình ảnh rất thân thương với Đức Thánh Cha Phanxicô. Nếu chúng ta thực sự nghiêm chỉnh và tha thiết đến việc chữa trị theo bối cảnh của bệnh viện dã chiến, thì chúng ta phải:

1/ Gắn bó khắng khít với Đức Giêsu, vị Lương Y chủ đạo. Chúng ta phải khiêm tốn. Chúng ta đâu có thể chữa trị duy bằng nỗ lực của riêng chúng ta, dù là bằng những kỹ năng tư vấn tâm lý đi nữa. Chúng ta tất cả đều phải chạy đến với Chúa Giêsu.

2/ Nhận thức được những vết thương của chính mình. Trực diện với vết thương của chính mình sẽ khiến chúng ta biết cảm thương và thông cảm với những ai đang bị thương tổn.

3/ Đừng sợ hãi bóng tối khi chữa trị vết thương, bệnh tật. Các vết thương và bệnh tật chẳng bao giờ sạch sẽ cả. Chúng có thể đầm đìa máu mủ, tan nát, trông ghê sợ. Chúng ta cần phải sẵn sàng đi vào thế giới đầy bóng tối đó.

4/ Phải chấp nhận Hội Thánh là một bệnh viện dã chiến. Chúng ta phải sẵn sàng đáp ứng trong những trường hợp khẩn cấp. Chúng ta phải mau lẹ có những giải pháp đầy sáng tạo. Chúng ta phải khéo léo và uyển chuyển.

5/ Phải truyền cho cả bệnh viện niềm hy vọng. Chúng ta không thể nào là lương y nếu chúng ta mang bộ mặt tuyệt vọng. Tôi chẳng biết làm thế nào để cho những người có bộ mặt ủ rũ như khi đi đưa tang lại có thể vực dậy niềm tin tưởng và chữa lành. Vậy xin hãy tươi tỉnh lên.

6/ Thường khi chữa trị, hay đúng hơn, phụ giúp Chúa Giêsu chữa trị cho ai, chúng ta bắt buộc cần phải yên lặng, kín tiếng. Không một lời nói, không một giải pháp nào cả. Chúng ta chỉ cống hiến một sự hiện diện đầy yêu thương. Sự khôn ngoan phân định là cần thiết.

Hai câu truyện

Tôi thường tham dự những trại hè dành cho thanh thiếu niên trong giáo phận. Lần đó là một trại hướng dẫn các em tìm hiểu ơn gọi.

Hôm đó, sau khi đã cho các em một bài nói chuyện ngắn, tôi cho các em nêu câu hỏi, và câu hỏi đầu tiên là của một cậu bé: “Thưa Đức Cha, xin Đức Cha hát cho chúng con nghe một ca khúc được không ạ?” Thật chẳng ăn nhập gì với đề tài, nên tôi nói: “Chúng ta hãy trở lại chủ đề. Hãy hỏi vào chủ đề.” Và các em lại đặt ra những câu hỏi. Nhưng rồi lại tới một cậu bé khác, cậu bé hỏi: “Bây giờ thì Đức Cha hát cho chúng con nghe được chưa ạ?”

Tôi nói: “Các con đâu có nói trước là cha sẽ phải hát đâu nào! Thôi hãy để cha khởi đầu một ca khúc tất cả các con đều hát được hết nhé.” Thế là tôi bắt đầu. Sau đó, bọn trẻ xúm xít kéo đến, ai cũng ăn bận bảnh bao, lại còn xin ban phép lành. Có một số bấm máy tự chụp hình. Một số khác lại xin chữ ký.

Có lắm em xin tôi ký tên vào áo của chúng. “Đây, xin Đức Cha ký vào đây cho con! Xin Đức Cha vui lòng ký vào đây!” Một cô bé nói: “Đây, đây! Xin Đức Cha ký vào đây!”(Cô bé chỉ vào ngực mình) Tôi nói: “Không! Không! Không! Quay lưng lại! Quay lưng lại!”

Nhưng rồi tôi nghĩ, các cô cậu này nghĩ gì về mình nhỉ ? Mình là ca sĩ ư? Mình là người nổi tiếng ư? Mình là gì? Mình định hành sử như một giám mục hay như người nào đây?

Câu trả lời đến với tôi một năm sau đó, trong một trại hè tương tự. Một cậu bé lại gần tôi và nói: “Năm ngoái, con đã được Đức Cha ký vào áo sơ mi của con.” Tôi đáp: “Ồ, phải, cha nhớ ra rồi.” Cậu bé nói: “Con đã không giặt cái áo ấy.” Rồi cậu bé nói “Hằng đêm, con xếp áo ấy lại, và con đặt bên dưới cái gối của con. Con đã không gặp lại được cha con nhiều năm rồi. Cha con đang đi làm ở ngoại quốc. Cha con không ở nhà. Nhưng nhờ cái áo này với chữ ký của Đức cha trên đó, con biết con có một mái ấm gia đình. Con biết con đang có một người cha.”

Cám ơn. Cám ơn rất nhiều. Cám ơn thật nhiều.

Cho tôi kết thúc bằng câu chuyện cảm động này tôi đã đọc được từ một báo cáo của một cô gái tỵ nạn:

“Tôi được sinh ra trong rừng. Mẹ tôi bảo tôi rất may mắn vì tôi đã sinh ra trong lúc có rất nhiều người chung quanh tôi phải chết. Quê hương tôi ở Miến điện, nơi có hàng ngàn người thiệt mạng trong chiến cuộc giữa quân đội Miến và các nhóm đối lập. Tôi sinh ra trong rừng vì cha mẹ tôi trốn chạy để tránh khỏi chiến cuộc.

Khi còn học tiểu học, tôi đã phải rời bỏ làng quê, và kể từ đó trở đi, tôi cứ phải di chuyển từ làng này sang làng khác để theo học. Cho tới năm 1992, thì tôi đã thăm viếng cha mẹ và các anh chị em tôi được khoảng một năm, nhưng kể từ đó tôi không còn được gặp lại cha mẹ và anh chị em tôi nữa, vì tôi không còn thể nào trở về nhà được nữa, sau khi quân đội Miến phong tỏa mọi con đường dọc theo biên giới Thái – Miến.

Thế là tôi phải sống một mình, bươn chải lấy một mình, chẳng có cha mẹ bên cạnh. Tôi có những người họ hàng sống ở quanh đây, nhưng tôi biết tôi không thể có được tình yêu thương và sự chăm sóc của cha mẹ tôi bất cứ khi nào tôi muốn được nữa. Tôi không còn có thể nói chuyện với cha mẹ tôi khi tôi muốn. Khi cha mẹ đau ốm, tôi chẳng thể viếng thăm và chăm sóc được. Khi tôi đau yếu tôi mới nhận thức được tôi nhớ cha mẹ tôi biết chừng nào. Cuộc sống của một người tỵ nạn mới khó khăn biết bao! Tôi cần có cha mẹ ở bên tôi, ngay bên giường tôi, biết bao! Nhưng tôi không thể nào có được các ngài nữa.

“Tôi òa khóc. Thật cơ cực cho tôi biết chừng nào! Tôi không thể nào gặp được cha mẹ tôi bởi vì chiến tranh. Rồi tôi nhận ra rằng: tôi không phải là người duy nhất đang phải khóc lóc. Và tôi cảm thấy được an ủi. Tôi biết có nhiều ngàn người đang phải đau khổ như tôi. Biết đến khi nào mới có được hòa bình ở Miến điện? Khi nào sẽ hết chiến tranh? Khi nào những vấn đề chủng tộc mới được giải quyết?

Sau những năm dài phải di chuyển hết nơi này đến nơi khác, cuối cùng tôi được định cư trong các trại tỵ nạn ở Karenni. Tôi được yêu cầu đứng lớp tại các trường trong trại tỵ nạn. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, tôi lại được tuyển chọn cho đi thực tập ở Phi luật tân. Trong thời gian phải đi xa, tôi đã học được nhiều hơn về nhân quyền, và bây giờ tôi làm việc với Cơ quan Tỵ nạn của Dòng Tên trong lãnh vực giáo dục.
Chúng tôi đang bận rộn nâng đỡ các trường ở Karenni bằng nhiều cách. Tôi rất hạnh phúc, và có thể dùng học vấn của tôi để trợ giúp đồng bào tôi trong những thời điểm khó khăn này. Tôi không còn là người phải khóc lẻ loi một mình nữa.”

Đó chính là mái ấm cho con tim mang thương tích vậy.

Xin hết lòng cám ơn các bạn.

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 95 (Tháng 7 & 8 năm 2016)

Nguồn: W.HĐGMVN

HL.MĐ